Những tiến bộ mới trong chẩn đoán, điều trị bệnh tiêu hóa - gan mật
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong nội soi tiêu hóa, kỹ thuật cắt u dưới niêm mạc qua nội soi... là những tiến bộ nổi bật được các chuyên gia chia sẻ tại Hội thảo khoa học “Cập nhật chẩn đoán và điều trị các bệnh tiêu hóa - gan mật 2026”, diễn ra tại Bệnh viện Đại học Quốc tế Hồng Bàng.
Sự phát triển nhanh của công nghệ y học đang mở ra nhiều lựa chọn mới trong chẩn đoán và điều trị các bệnh lý tiêu hóa - gan mật.
Từ trí tuệ nhân tạo hỗ trợ nội soi, các kỹ thuật nội soi can thiệp ít xâm lấn đến những nghiên cứu mới về điều trị viêm gan B, nhiều tiến bộ đã được các chuyên gia cập nhật tại Hội thảo khoa học “Cập nhật chẩn đoán và điều trị các bệnh tiêu hóa - gan mật 2026”.
Hội thảo do Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng (HIU) và Bệnh viện Đại học Quốc tế Hồng Bàng (HIU Hospital) phối hợp tổ chức sáng nay (1/8).

Đây là hội thảo liên Viện - Trường lần thứ nhất, quy tụ gần 300 giáo sư, bác sĩ, giảng viên và cán bộ y tế đến từ nhiều bệnh viện, trường đại học y khoa lớn như Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Nhân dân 115, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, Bệnh viện FV và Trường Đại học Y Dược Cần Thơ.
Chương trình tập trung vào sáu chuyên đề chuyên sâu, cập nhật những thay đổi mới trong chẩn đoán, điều trị các bệnh lý tiêu hóa và gan mật.
Phát biểu tại hội thảo, GS.TS.BS Phạm Văn Lình - Hiệu trưởng HIU kiêm Giám đốc Bệnh viện Đại học Quốc tế Hồng Bàng cho biết, mục tiêu của chương trình là xây dựng diễn đàn trao đổi học thuật giữa các chuyên gia, giúp đội ngũ y tế cập nhật bằng chứng khoa học và kinh nghiệm thực hành, đồng thời gắn kết hoạt động đào tạo, nghiên cứu với thực hành lâm sàng trong mô hình Bệnh viện - Trường Đại học.
AI ngày càng hỗ trợ hiệu quả cho nội soi tiêu hóa
Một trong những nội dung được quan tâm tại hội thảo là việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong nội soi tiêu hóa.

Theo BSCKII Trịnh Phạm Mỹ Lệ - Phó Trưởng khoa Nội soi, Bệnh viện Chợ Rẫy, AI hiện được ứng dụng chủ yếu dưới hai dạng. Trong đó, CADe hỗ trợ phát hiện và đánh dấu những vùng nghi ngờ ngay trong quá trình nội soi, còn CADx giúp phân loại tổn thương, cung cấp thêm dữ liệu để bác sĩ cân nhắc theo dõi hay can thiệp điều trị.
Dẫn kết quả phân tích tổng hợp từ 28 thử nghiệm ngẫu nhiên với 23.861 người bệnh, báo cáo cho thấy nội soi đại tràng có AI hỗ trợ giúp tăng khoảng 20% tỷ lệ phát hiện u tuyến và giảm khoảng 55% tỷ lệ bỏ sót u tuyến so với nội soi thông thường. Đây được xem là một bước tiến giúp nâng cao hiệu quả tầm soát ung thư đại trực tràng trong thực hành lâm sàng.
Bên cạnh AI, các công nghệ tăng cường hình ảnh như NBI, LCI và BLI cũng tiếp tục được ứng dụng nhằm giúp bác sĩ quan sát rõ hơn màu sắc, hệ thống mạch máu và cấu trúc bề mặt của tổn thương.
Theo các chuyên gia, AI và công nghệ tăng cường hình ảnh không thay thế nhau mà bổ trợ lẫn nhau. AI đóng vai trò cảnh báo và phân loại vùng nghi ngờ, trong khi các công nghệ hình ảnh giúp bác sĩ đánh giá chi tiết đặc điểm tổn thương.
Mở rộng chỉ định điều trị bằng nội soi ít xâm lấn

Trong lĩnh vực nội soi can thiệp, ThS.BS La Vĩnh Phúc - Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, trình bày kết quả áp dụng kỹ thuật đào hầm dưới niêm mạc qua nội soi ống mềm để cắt u dưới niêm mạc thực quản và dạ dày.
Đây là nhóm khối u nằm sâu dưới lớp niêm mạc nên việc lấy mẫu hoặc cắt bỏ bằng các phương pháp thông thường thường gặp nhiều khó khăn.
Với kỹ thuật mới, bác sĩ tạo một đường tiếp cận trong lớp dưới niêm mạc, bóc tách khối u rồi đóng lại bằng kẹp nội soi, qua đó bảo tồn phần lớn lớp niêm mạc và hạn chế tổn thương thành ống tiêu hóa.
Nghiên cứu được thực hiện trên 63 người bệnh có khối u dưới niêm mạc thực quản hoặc dạ dày với kích thước không quá 3 cm.
Kết quả ghi nhận 62 trường hợp hoàn tất thủ thuật mà không cần chuyển sang phẫu thuật. Thời gian thực hiện trung vị khoảng 50 phút, thời gian nằm viện sau can thiệp trung vị là 2 ngày.
Đáng chú ý, trong số 52 người bệnh được theo dõi đủ 6 tháng, chưa ghi nhận trường hợp tái phát. Theo nhóm nghiên cứu, kết quả này cho thấy ở những trường hợp phù hợp về chuyên môn, việc tiếp cận và cắt bỏ tổn thương qua nội soi có thể là lựa chọn điều trị hiệu quả, ít xâm lấn hơn so với phẫu thuật truyền thống.
Hướng nghiên cứu mới trong điều trị viêm gan B
Ở lĩnh vực gan mật, hội thảo cũng cập nhật những thay đổi trong điều trị viêm gan B.

Theo ThS.BSCKII Trần Kinh Thành - Phó Trưởng khoa Nội Tiêu hóa, Bệnh viện Nhân dân 115, Việt Nam vẫn là quốc gia có gánh nặng bệnh viêm gan B cao trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, với khoảng 6,6 triệu người mang virus và hơn 30.000 ca tử vong mỗi năm liên quan đến căn bệnh này.
Các thuốc kháng virus hiện nay có thể giúp giảm hơn 50% nguy cơ tiến triển thành xơ gan và ung thư gan. Tuy nhiên, đa số người bệnh vẫn phải điều trị kéo dài bởi thuốc chủ yếu kiểm soát sự nhân lên của virus chứ chưa loại bỏ hoàn toàn nguồn virus tồn tại trong tế bào gan.
Theo báo cáo, mục tiêu nghiên cứu hiện nay đang hướng tới “chữa khỏi chức năng”, được xác định khi người bệnh mất HBsAg bền vững và không còn phát hiện HBV DNA.
Kết quả từ hai thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 cho thấy khoảng 19-20% người bệnh đáp ứng tiêu chí tuyển chọn và sử dụng thuốc thử nghiệm bepirovirsen đạt mục tiêu “chữa khỏi chức năng” sau 72 tuần, trong khi nhóm dùng giả dược chưa ghi nhận trường hợp nào đạt tiêu chí này.
Tuy nhiên, các chuyên gia cũng nhấn mạnh đây mới là dữ liệu trên nhóm người bệnh được lựa chọn tham gia nghiên cứu và chưa phải căn cứ để người bệnh tự ý thay đổi hoặc ngừng phác đồ điều trị hiện tại. Việc dừng thuốc không đúng chỉ định có thể khiến virus tái hoạt động và làm bệnh tiến triển nặng hơn.
Ngoài ba nội dung nổi bật trên, hội thảo còn cập nhật nhiều vấn đề thực hành khác như điều trị trào ngược dạ dày - thực quản, hội chứng ruột kích thích và lựa chọn các phương tiện chẩn đoán hình ảnh trong bệnh lý tiêu hóa - gan mật.
Theo các chuyên gia, việc liên tục cập nhật tiến bộ khoa học và ứng dụng công nghệ mới sẽ góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị, đồng thời mở thêm cơ hội tiếp cận các phương pháp y học hiện đại cho người bệnh mắc các bệnh lý tiêu hóa - gan mật.

























