Thứ hai, 21/09/2026 08:43     |   Tiêu dùng     |   Nhịp sống miền Tây     |   Phụ nữ Sức khoẻ
|
Hà nội 21*C/61%
Emagazine
Từng có thời gian đứng trước nguy cơ mai một, làn điệu Trống quân Dạ Trạch hôm nay đang trở lại trong tiếng hát của những nghệ nhân tóc bạc và cả những đứa trẻ còn ngồi trên ghế nhà trường. Hành trình hồi sinh một di sản bắt đầu từ những người dân bình dị. Họ là những "nghệ sĩ đồng quê" đã không để di sản của cha ông chìm vào quên lãng.

ÂM VANG NGÀN NĂM HUYỀN THOẠI

Một buổi chiều muộn, ánh nắng cuối ngày còn xuyên qua những tán lá của hàng nhãn cổ. Trong không gian tĩnh lặng của Khu di tích đặc biệt quốc gia Đền Hóa Dạ Trạch (xã Triệu Việt Vương, tình Hưng Yên) tiếng gõ nhịp trầm ấm bất ngờ vang lên: "Thùng... thình... thùng..."

Các nghệ nhân đứng thành hai hàng, một bên nam, một bên nữ. Người cầm dùi giữ nhịp bên chiếc trống đất, người chuẩn bị lời hát. Rồi câu hát đầu tiên cất lên, chậm rãi và mộc mạc:

"Anh cắm cành đa

Tháng bảy anh cắm cành đa

Hẹn nàng tháng tám nàng ra chốn này..."

Tiếng hát vừa dứt, phía bên kia đã có lời đối đáp:

"Mong mỏi làm chi

Xin chàng mong mỏi làm chi

Giữ lời hẹn ước em thì ra đây..."

Câu hát này nối tiếp câu hát khác. Người hát hỏi, người hát đáp. Không có bản nhạc đặt sẵn, cũng không có kịch bản cố định. Sự nhanh trí, vốn sống và khả năng ứng tác quyết định sức hấp dẫn của mỗi cuộc hát.

Một buổi hát Trống quân tại Khu di tích đặc biệt quốc gia Đền Hóa Dạ Trạch (xã Triệu Việt Vương, tình Hưng Yên)

Xung quanh, người dân đứng xem ngày một đông. Có những cụ già lặng lẽ nghe từng câu hát như tìm lại một phần ký ức. Có những đứa trẻ chăm chú theo dõi, thỉnh thoảng lại khe khẽ hát theo lời của người lớn.

Giữa không gian cổ kính của miền đất huyền thoại, một thanh âm tưởng như chỉ còn trong ký ức của những thế hệ trước vẫn đang hiện diện trong đời sống hôm nay. Đó là một canh hát của Câu lạc bộ Trống quân Dạ Trạch ở thôn Yên Vĩnh, xã Triệu Việt Vương, tỉnh Hưng Yên.

Giữa nhịp sống hiện đại, khi nhiều loại hình văn hóa dân gian đang dần thu hẹp không gian tồn tại, những câu hát Trống quân ở Dạ Trạch vẫn vang lên bền bỉ. Để giữ được tiếng hát ấy, nhiều thế hệ người dân nơi đây đã cùng góp sức.

Từ những nghệ nhân tóc đã bạc, những người làm công tác văn hóa, các thầy cô giáo đến những học sinh còn đang ngồi trên ghế nhà trường, mỗi người giữ một vai trò khác nhau trong hành trình nối dài một di sản.

Họ không phải những nghệ sĩ chuyên nghiệp. Nhưng chính họ đang lặng lẽ làm công việc của những người nghệ sĩ. Những "nghệ sĩ đồng quê" đang giữ lại tiếng hát của quê hương mình.

Hát Trống quân là một loại hình dân ca đối đáp giao duyên phổ biến ở vùng đồng bằng sông Hồng. Trong đời sống nông nghiệp xưa, khi công việc đồng áng tạm ngơi, trai gái trong làng thường tụ họp ở sân đình, bến nước hoặc những khoảng đất rộng để hát đối đáp. Những cuộc hát thường diễn ra vào ban đêm, trong không khí lễ hội hoặc những dịp sinh hoạt cộng đồng.

Ở Hưng Yên, nhiều địa phương vẫn còn lưu giữ hình thức diễn xướng này. Tuy nhiên, Dạ Trạch được xem là một trong những vùng đất tiêu biểu, nơi Trống quân không chỉ là một hình thức hát dân gian mà còn gắn với lịch sử, truyền thuyết và đời sống văn hóa của cộng đồng.

Dạ Trạch là vùng đất gắn với truyền thuyết Chử Đồng Tử - Tiên Dung, đồng thời lưu giữ nhiều dấu tích liên quan đến Triệu Việt Vương. Chính sự giao thoa giữa lịch sử, truyền thuyết và đời sống dân gian đã tạo nên một không gian văn hóa đặc biệt cho vùng đất này.

Theo những câu chuyện được lưu truyền trong dân gian, Trống quân Dạ Trạch đã xuất hiện từ rất lâu đời. Tuy nhiên, đến nay vẫn không có một mốc thời gian chính xác về sự ra đời của loại hình nghệ thuật này.

Ông Nguyễn Văn Hẳn - Chủ nhiệm Câu lạc bộ Trống quân Dạ Trạch, cho biết có nhiều cách lý giải khác nhau về nguồn gốc của tiếng hát.

"Trống quân Dạ Trạch thật ra không ai biết chính xác có từ bao giờ. Có truyền thuyết nói rằng từ thời Chử Đồng Tử - Tiên Dung, cũng có truyền thuyết cho rằng từ khi Triệu Quang Phục đánh quân Lương ở vùng đầm Dạ Trạch. Nhưng điều chắc chắn là người dân nơi đây đã hát qua nhiều đời, truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác", ông Hẳn nói.

Từ những vật liệu gần gũi nhất với đời sống nông thôn, người xưa đã tạo ra một nhạc cụ mang âm sắc riêng.

Chính sự truyền miệng ấy cũng tạo nên một đặc điểm quan trọng của Trống quân. Không giống nhiều loại hình dân ca có bài bản cố định, cuộc hát Trống quân dựa nhiều vào khả năng ứng tác của người hát.

Hai bên nam nữ thay nhau hát hỏi, hát đáp. Một câu hát được đưa ra không chỉ cần được đáp lại cho đúng vần mà còn phải hợp ý, hợp cảnh và đủ duyên để cuộc hát tiếp tục.

"Cái hay của Trống quân là ở chỗ ứng tác. Khi bên này hát hỏi, bên kia phải nghĩ rất nhanh để đối đáp cho hợp vần, hợp ý. Vì vậy, cuộc hát lúc nào cũng sinh động", Chủ nhiệm Câu lạc bộ Trống quân Dạ Trạch chia sẻ.

Một canh hát Trống quân truyền thống thường có nhiều phần như hát chào, hát giao duyên, hát ước hẹn, hát thách cưới. Trong đời sống làng quê xưa, những cuộc hát như vậy có thể kéo dài nhiều đêm.

"Ban ngày các cụ đi làm đồng, tối đến mới tụ họp hát. Có khi hát vài đêm liền, bên nào bí lời thì mới dừng lại. Đó là niềm vui lớn của người dân sau những ngày lao động vất vả", ông Hẳn kể.

Những câu hát vì thế không tách rời cuộc sống. Chúng được tạo nên từ chính những gì người dân nhìn thấy, trải qua và cảm nhận mỗi ngày. Một cành cây, một lời hẹn, một con đường hay một câu chuyện trong làng đều có thể trở thành chất liệu cho cuộc đối đáp. Có lẽ cũng bởi được sinh ra từ đời sống và tồn tại trong đời sống, Trống quân từng có sức sống mạnh mẽ trong cộng đồng.

Không chỉ đặc sắc ở lối hát đối đáp, Trống quân Dạ Trạch còn có một nhạc cụ rất đặc biệt: Trống đất, hay còn gọi là "thổ cổ". Đây là thứ nhạc cụ khiến nhiều người lần đầu chứng kiến không khỏi tò mò. Bởi gọi là trống nhưng cách tạo âm thanh lại không giống một chiếc trống thông thường. Trong cấu tạo của nó có thùng gỗ, dây mây, một chiếc nạng gỗ và cả lòng đất.

Theo ông Nguyễn Văn Hẳn, ngày trước, khi hát ở đình làng hoặc ngoài ngõ xóm, người dân thường sử dụng một chiếc thùng gỗ tròn, loại thùng từng dùng để đựng nước mắm. Thùng cao khoảng 40-45cm, được quấn ba đai để tạo độ chắc chắn, miệng rộng khoảng 30cm.

Người ta đào một chiếc hố có độ rộng tương ứng với miệng thùng, sâu khoảng 25-30cm. Sau khi bỏ nắp, chiếc thùng được úp xuống mặt hố. Có khi người dân còn đổ thêm vỏ ốc xuống dưới để tạo độ vang cho âm thanh.

Trên mặt thùng đặt một chiếc nạng gỗ cao khoảng 15cm, người dân gọi là "ngựa". Hai chiếc cọc bằng tre già hoặc gỗ được đóng xuống đất, sau đó một sợi dây mây dài được kéo căng qua mặt trống. Nghệ nhân ngồi hai bên, dùng dùi gỗ gõ vào dây để tạo nhịp.

Âm thanh từ dây truyền xuống mặt thùng, tiếp tục vọng xuống lòng hố rồi phản âm trở lại. Từ một cấu tạo hết sức giản dị, tiếng "thùng... thình...thùng....thình" trầm ấm và đặc biệt được tạo nên.

Chủ nhiệm Câu lạc bộ Trống quân Dạ Trạch lý giải, cái độc đáo của trống đất nằm ở chỗ nó vừa có yếu tố của trống, vừa có yếu tố của đàn, nhưng lại không thể gọi hoàn toàn là một trong hai.

"Gọi là trống mà không phải là trống. Lại gõ trên dây nên gọi là đàn cũng không phải là đàn. Dây mây nằm trên mặt ngựa, chiếc nạng đặt trên mặt trống. Dùng dùi gõ vào dây nhưng âm thanh lại có sự liên quan trực tiếp đến mặt trống và lòng đất", ông Nguyễn Văn Hẳn nói.

Từ những vật liệu gần gũi nhất với đời sống nông thôn, người xưa đã tạo ra một nhạc cụ mang âm sắc riêng. Trong tiếng Trống quân Dạ Trạch, không chỉ có âm thanh của gỗ và dây mây. Còn có cả tiếng vọng của đất mẹ.

"HỒI SINH" DI SẢN TRƯỚC NGUY CƠ MAI MỘT

Nhưng cũng giống nhiều loại hình văn hóa dân gian khác, Trống quân Dạ Trạch từng trải qua một giai đoạn thăng trầm và có nguy cơ mai một.

Đặc biệt trong những năm chiến tranh, đời sống thay đổi, các hoạt động sinh hoạt văn hóa cộng đồng bị ảnh hưởng. Những cuộc hát không còn diễn ra thường xuyên như trước.

Trong khi đó, Trống quân vốn chủ yếu được truyền bằng hình thức truyền miệng. Không phải tất cả lời hát đều được ghi chép. Không phải tất cả làn điệu đều có tài liệu lưu giữ.

Một buổi truyền dạy hát Trống quân của các nghệ nhân cho thế hệ trẻ.

Theo thời gian, những người thuộc nhiều câu hát cổ ngày một già đi. Một câu hát có thể mất đi khi người cuối cùng còn nhớ nó không còn.

Một cách đối đáp có thể biến mất nếu không còn người truyền dạy. Một ngôi đình có thể được tu bổ. Một hiện vật có thể được phục chế. Nhưng một làn điệu chỉ thực sự tồn tại khi còn người hát.

Với di sản phi vật thể, sự mong manh nằm ở chính con người. Nhận thức rõ điều đó, nhiều người dân Dạ Trạch bắt đầu tìm cách phục hồi lại tiếng Trống quân.

Năm 2011, Câu lạc bộ Trống quân Dạ Trạch được thành lập với 27 thành viên. Đến nay, câu lạc bộ có 34 thành viên ở nhiều độ tuổi khác nhau. Người cao tuổi nhất đã ngoài 90, trong khi người trẻ nhất mới gần 30 tuổi.

Sự khác biệt về tuổi tác đôi khi lên đến hơn nửa thế kỷ. Nhưng tất cả cùng gặp nhau ở một tình yêu chung với tiếng hát Trống quân truyền thống của quê hương.

"Từ khi thành lập, câu lạc bộ bắt đầu phục dựng lại lối hát Trống quân. Đầu tiên là gặp các cụ cao tuổi để ghi lại các lời hát, làm tài liệu để dạy hát cho các cháu nhỏ. Đến nay, nhiều cháu đã hát được các làn điệu Trống quân cổ của các cụ ngày xưa", Chủ nhiệm Câu lạc bộ Trống quân Dạ Trạch chia sẻ.

Tuy nhiên, việc phục dựng không đơn thuần là tổ chức lại những buổi biểu diễn. Đó là cả một hành trình tìm lại ký ức, tìm lại lịch sử văn hóa của vùng đất nơi đây.

Các thành viên câu lạc bộ tìm đến những người cao tuổi, nghe họ nhớ lại từng câu hát, từng cách đối đáp, từng làn điệu. Những gì còn trong trí nhớ của các cụ được ghi chép lại để trở thành tài liệu truyền dạy cho thế hệ sau.

Bên cạnh việc lưu giữ những câu hát cổ, câu lạc bộ cũng sáng tác thêm những bài mới phù hợp với đời sống hiện nay, để Trống quân không chỉ tồn tại trong không gian của quá khứ.

Trong quá trình hoạt động, sáu thành viên Câu lạc bộ Trống quân Dạ Trạch đã được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú. Nhưng với những người trong câu lạc bộ, phần thưởng lớn nhất có lẽ không nằm ở danh hiệu. Mà là việc tiếng hát Trống quân đã trở lại.

Trong số những người gắn bó lâu năm với Trống quân, Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Thị Xuyên được nhiều người nhắc đến như một trong những “ngọn lửa” của phong trào.

Sinh năm 1951, bà đã có hơn 30 năm gắn bó với làn điệu dân gian của quê hương. Với bà, Trống quân không bắt đầu từ một lớp học hay một buổi biểu diễn. Nó bắt đầu từ tuổi thơ.

"Ngày nhỏ thường nghe các cụ trong làng hát Trống quân vào những đêm hội. Nghe nhiều rồi thuộc. Sau này lớn lên, bà tập hát theo và dần dần gắn bó với làn điệu này", bà Xuyên kể.

Trong ký ức của bà là những đêm hội làng, nơi người lớn tụ họp và cất lên những câu hát đối đáp. Một đứa trẻ đứng bên ngoài nghe nhiều lần rồi thuộc.

Không có giáo trình. Không có bản nhạc. Cứ thế, tiếng hát được truyền bằng cách tự nhiên nhất: người lớn hát, trẻ nhỏ nghe và học theo.

"Những câu hát giản dị nhưng chứa đựng rất nhiều tình cảm của người dân quê. Mỗi lần cất giọng hát Trống quân, tôi lại nhớ đến những đêm hội làng xưa", Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Thị Xuyên tâm sự.

Hơn ba thập kỷ gắn bó với Trống quân, bà Xuyên không chỉ tham gia biểu diễn mà còn trực tiếp truyền dạy cho thế hệ trẻ. Với bà, giữ di sản không phải chỉ là giữ lại những câu hát cho riêng thế hệ mình. Điều quan trọng hơn là phải có người hát tiếp.

"Có một điều đáng quý là người dân Dạ Trạch vẫn yêu thích các làn điệu Trống quân. Điệu hát gợi lại không gian thanh bình của làng quê xưa, nay trở thành ký ức đẹp của nhiều người. Hát Trống quân không khó truyền dạy, chỉ bảo vài lần là các bạn trẻ có thể hát theo", bà Xuyên nói.

Điều Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Thị Xuyên mong mỏi nhất là lớp trẻ hiểu và yêu làn điệu của quê hương. "Khi các em biết hát và trân trọng di sản quê hương thì Trống quân sẽ còn mãi". Câu nói của người nghệ nhân không phải là một lời khẳng định về quá khứ. Đó là niềm tin đặt vào tương lai.

TỪ SÂN ĐỀN ĐẾN LỚP HỌC

Nếu các nghệ nhân là những người giữ gìn "ký ức ngàn năm", thì trường học đang trở thành nơi mở ra một hành trình mới cho Trống quân Dạ Trạch.

Ông Nguyễn Ngọc Châu - cán bộ Phòng Văn hóa - Xã hội UBND xã Triệu Việt Vương (tỉnh Hưng Yên) cho biết, Trống quân là một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian có từ lâu đời, gắn với đời sống cộng đồng và các lễ hội truyền thống của địa phương.

Đây là di sản văn hóa phi vật thể được Nhà nước ghi nhận và đang được địa phương quan tâm gìn giữ, phát huy.

Theo ông Châu, hiện xã có 7 Nghệ nhân Ưu tú tham gia gìn giữ và truyền dạy các làn điệu Trống quân. Thời gian qua, địa phương cũng phối hợp với ngành văn hóa hoàn thiện các thủ tục liên quan đến việc hỗ trợ nghệ nhân theo các quy định của Nhà nước, đặc biệt là những chính sách dành cho người tham gia bảo tồn và truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể.

Những làn điệu Trống quân đã trở thành nội dung quen thuộc trong các giờ học âm nhạc và hoạt động giáo dục địa phương.

Bên cạnh việc hỗ trợ các nghệ nhân, công tác truyền dạy cũng được địa phương chú trọng. "Hằng năm, Trung tâm Văn hóa xã phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức các lớp truyền dạy, mời các nghệ nhân trực tiếp hướng dẫn cho học sinh, giáo viên và những người yêu thích loại hình nghệ thuật này", ông Châu cho biết.

Điều đáng chú ý trong cách bảo tồn Trống quân Dạ Trạch là việc đưa di sản vào trường học. Bởi nếu chỉ tồn tại trong lễ hội hoặc những buổi biểu diễn, khoảng cách giữa di sản và thế hệ trẻ sẽ ngày càng xa.

Nhưng khi Trống quân trở thành một phần trong hoạt động giáo dục, những đứa trẻ có thể tiếp cận nó từ sớm. Không phải bằng những lời giới thiệu khô cứng. Mà bằng chính việc hát làn điệu Trống quân.

Tại Trường Tiểu học Triệu Việt Vương 2 (trước đây là Trường Tiểu học Dạ Trạch), những làn điệu Trống quân đã trở thành nội dung quen thuộc trong các giờ học âm nhạc và hoạt động giáo dục địa phương.

Người tích cực đưa Trống quân đến gần học sinh là thầy giáo Nguyễn Ngọc Huấn. Là người con của quê hương Dạ Trạch, đồng thời là giáo viên âm nhạc, thầy Huấn có một tình cảm đặc biệt với những làn điệu dân gian của địa phương.

"Tôi nghĩ rằng nếu không truyền lại cho thế hệ trẻ thì một ngày nào đó những làn điệu này có thể bị mai một", thầy Huấn chia sẻ.

Từ suy nghĩ ấy, thầy bắt đầu tìm đến các nghệ nhân trong làng để học hỏi và sưu tầm các làn điệu Trống quân. Thầy nghe. Thầy tìm hiểu. Thầy học. Thầy ghi chép lại.

Rồi từ những gì tiếp nhận được từ các nghệ nhân, thầy tìm cách đưa Trống quân đến với học sinh bằng phương pháp phù hợp với lứa tuổi. Hiện nay, các làn điệu Trống quân đã được phổ biến cho học sinh từ lớp 2 đến lớp 5.

"Nhiều em sau khi học ở bậc tiểu học tiếp tục tham gia biểu diễn ở các cấp học cao hơn. Các em không chỉ biết hát mà còn hiểu được cách thể hiện, cách luyến láy và nét đặc trưng của từng làn điệu Trống quân của quê hương Dạ Trạch", thầy Huấn cho biết.

Nhà trường cũng thành lập câu lạc bộ nghệ thuật truyền thống với tên gọi "Dàn đồng ca Tiểu học Dạ Trạch", duy trì khoảng 80-90 học sinh tham gia mỗi năm.

Trong các giờ học âm nhạc, hoạt động giáo dục địa phương và sinh hoạt câu lạc bộ, học sinh được tiếp cận thường xuyên với Trống quân cùng một số làn điệu hát văn.

Với thầy Huấn, điều quan trọng không chỉ là số lượng học sinh biết hát mà chính là sự đam mê và yêu thích của các em. Có lẽ, không có sự tiếp nối nào tự nhiên hơn việc một đứa trẻ chủ động muốn học tiếng hát của quê hương mình.

"Điều khiến tôi vui nhất là nhiều học sinh rất hào hứng. Có em cứ đến giờ học lại chạy đến nói: "Thầy ơi, thầy dạy chúng con hát Trống quân đi". Khi các em hiểu và yêu những làn điệu của quê hương, đó chính là thành công lớn nhất trong việc gìn giữ và lan tỏa giá trị văn hóa truyền thống", thầy Huấn tâm sự.

Trong một giờ học, em Trần Hà Chi (học sinh Trường Tiểu học Triệu Việt Vương 2), chăm chú nghe thầy giáo và các nghệ nhân hướng dẫn từng câu hát. Với những đứa trẻ như Hà Chi, Trống quân không còn là câu chuyện xa xôi của thế hệ ông bà. Nó đã trở thành một phần trong những giờ học ở trường.

"Khi được các thầy và các ông bà trong Câu lạc bộ Trống quân dạy hát, em thấy rất yêu thích làn điệu này. Em rất tự hào vì quê hương Dạ Trạch có những làn điệu dân gian mộc mạc, giản dị nhưng rất hay", Hà Chi nói.

Một di sản chỉ thực sự có tương lai khi thế hệ trẻ coi nó là của mình. Khi các em không học chỉ vì một tiết học. Không hát chỉ vì một buổi biểu diễn. Mà bắt đầu cảm thấy tự hào về tiếng hát được khai sinh trên chính mảnh đất quê hương mình sinh ra và lớn lên.

Năm 2016, hát Trống quân Dạ Trạch được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là "Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia". Đây là một dấu mốc quan trọng đối với hành trình gìn giữ và phát huy giá trị của loại hình nghệ thuật dân gian này.

Từ sự ghi nhận đó, chính quyền địa phương đã xây dựng kế hoạch truyền dạy hát Trống quân tại các trường tiểu học và trung học cơ sở trên địa bàn.

Các thành viên Câu lạc bộ Trống quân Dạ Trạch phối hợp với giáo viên âm nhạc lựa chọn những làn điệu dễ nhớ, dễ thuộc, có tính chất tươi vui, phù hợp với lứa tuổi học sinh. Việc truyền dạy được tổ chức thông qua các hoạt động ngoại khóa, trải nghiệm, một số tiết học âm nhạc, nội dung giáo dục địa phương và hoạt động câu lạc bộ.

Nhưng câu chuyện ở Dạ Trạch cho thấy bảo tồn di sản không thể chỉ dừng lại ở việc ghi tên vào danh mục hay tổ chức những chương trình mang tính thời điểm. Di sản phi vật thể cần được thực hành. Cần có người truyền dạy. Cần có người học. Và quan trọng hơn, cần có một môi trường để tiếp tục tồn tại trong đời sống.

Ở vùng đất Dạ Trạch, hành trình ấy đang được tạo nên bởi nhiều người. Các nghệ nhân giữ lại ký ức. Câu lạc bộ phục dựng những câu hát cổ. Chính quyền tạo điều kiện cho công tác bảo tồn. Ngành văn hóa tổ chức các lớp truyền dạy. Giáo viên đưa di sản vào trường học và những đứa trẻ trở thành người tiếp nhận.

Từng có thời gian đứng trước nguy cơ mai một, làn điệu Trống quân Dạ Trạch hôm nay đang trở lại trong tiếng hát của những nghệ nhân tóc bạc và cả những đứa trẻ còn ngồi trên ghế nhà trường.

Từ một người biết hát đến một nhóm người cùng hát. Từ một Câu lạc bộ đến một ngôi trường. Từ thế hệ hôm nay đến thế hệ ngày mai. Đó chính là "mạch nguồn văn hóa" được nối dài theo cách như thế.

Trống quân Dạ Trạch có thể không rực rỡ dưới ánh đèn sân khấu lớn. Không cần những dàn nhạc hiện đại. Sức sống của nó nằm trong những điều giản dị hơn. Di sản văn hóa sau cùng, không chỉ là những gì được lưu giữ từ quá khứ. Di sản còn là những gì được trao cho tương lai.

Khi những nghệ nhân tóc bạc không còn đủ sức đứng trong một canh hát dài, có thể những đứa trẻ hôm nay sẽ bước ra khoảng sân ấy. Chúng sẽ đứng thành hai hàng: Một bên nam; một bên nữ. Sẽ có người cất câu hát đầu tiên. Sẽ có người tìm lời đối đáp.

Và ở giữa khoảng sân làng, một sợi dây mây sẽ lại được căng lên. "Thùng... thình... thùng... thình". Tiếng trống ấy không chỉ vọng từ chiếc thùng gỗ. Nó vọng từ ký ức của một miền đất. Từ những thế hệ đã đi qua.

Và từ niềm tin của những người đang ở lại. Chừng nào còn người hát, Trống quân Dạ Trạch sẽ còn sống. Chừng nào còn những đứa trẻ muốn học tiếng hát của quê hương, mạch nguồn ấy sẽ còn được tiếp nối.

HÀNH TRÌNH CỦA DI SẢN

- Năm 2011: Câu lạc bộ Trống quân Dạ Trạch được thành lập với 27 thành viên. Hiện câu lạc bộ có 34 thành viên ở nhiều độ tuổi khác nhau.

- Năm 2016: Hát Trống quân Dạ Trạch được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

-Hiện nay tại xã Triệu Việt Vương có 7 Nghệ nhân Ưu tú tham gia gìn giữ và truyền dạy các làn điệu Trống quân.

- Tại Trường Tiểu học Triệu Việt Vương 2: Trống quân được phổ biến cho học sinh từ lớp 2 đến lớp 5. Câu lạc bộ “Dàn đồng ca Tiểu học Dạ Trạch” duy trì khoảng 80-90 học sinh tham gia mỗi năm.

- Phương thức truyền dạy: Di sản được đưa vào hoạt động ngoại khóa, trải nghiệm, giờ học âm nhạc, nội dung giáo dục địa phương và các câu lạc bộ nghệ thuật truyền thống.

Nam Anh  
Hành trình đánh thức
Những nghệ nhân lặng lẽ
HANU đón hơn 3.000 tân sinh viên: Khi 'những vector độc nhất' bắt đầu hành trình vươn ra thế giới
Kỳ 3: Khi
Kỳ 2: Từ đối tượng thụ hưởng đến nguồn lực phát triển
Kỳ 1: Áp lực phía sau những
Từ “Em Gái Mưa” đến “Phao Cứu Sinh”: Hương Tràm nhìn lại hành trình trưởng thành
Thu Minh xuất hiện tại concert Phao Cứu Sinh, “đập tan” tin rạn nứt với Hương Tràm
Sát giờ G
Nghĩa tình ở Khuổi Luông
Hương Tràm mang “con sóng” khổng lồ lên sân khấu Phao Cứu Sinh
Về Vị Xuyên tri ân những anh hùng liệt sĩ hy sinh vì Tổ quốc
Xem thêm